Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2013

Trẻ em nên học một ngôn ngữ mới như thế nào?


Nhưng như thế không có nghĩa là chúng ta không thể đưa ra kết luận về phương pháp học như thế nào cho hiệu quả. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của chuyên gia về giáo dục trẻ em Mitchell Willcox -. Ông cho biết, thực tế, dựa vào những phương pháp học khác nhau của trẻ, chúng ta có thể nhận thấy đâu là cách tốt nhất.




Từ một thí nghiệm giáo dục

Các nhà tâm lý học thuộc Viện Công nghệ Massachusetts (Hoa Kỳ) vừa đưa ra một bản nghiên cứu dựa trên một thí nghiệm đơn giản và chứa nhiều thông tin (Những chỉ dẫn hạn chế khả năng tìm tòi và khám phá tự nhiên). Họ đã đưa cho hai nhóm trẻ em riêng biệt một thứ đồ chơi làm từ rất nhiều những chiếc ống khác nhau. Mỗi ống có một đặc điểm riêng. Có chiếc kêu cọt kẹt, có chiếc có gắn một tấm gương bên trong…

Cả 2 nhóm trẻ đều được một người lớn hướng dẫn cách chơi đồ chơi đó. Ở nhóm thứ nhất, người chỉ dẫn hướng dẫn trẻ cách chơi trực tiếp và không đề cập hết tất cả những chức năng của những chiếc ống. Nhóm thứ hai được một người lớn phát đồ chơi cho một cách hào hứng. Thay vì hướng dẫn trẻ cách chơi, người này tạo cảm hứng cho trẻ thấy khám phá thứ đồ chơi này thật thú vị. Người hướng dẫn này kéo 1 chiếc ống và tỏ ra ngạc nhiên khi chiếc ống phát ra tiếng cọt kẹt và lặp đi lặp lại hành động đó. Và cô ấy tiếp tục nói chuyện với các emtrong khi không ngừng khám phá những chiếc ống. Giống như nhóm 1, giáo viên không đề cập tới tất cả những chức năng.



Sau đó, họ quan sát 2 nhóm trẻ chơi thứ đồ chơi này. Theo những gì các nhà khoa học nhìn thấy, nhóm trẻ thứ nhất không chơi lâu và cũng không khám phá được thêm nhiều chức năng của đồ chơi mà chỉ lặp lại những gì người chỉ dẫn đã làm mẫu (kéo cho ống kêu) rồi dừng lại. Tuy nhiên, nhóm thứ 2 chơi đồ chơi này lâu hơn và khám phá được thêm rất nhiều chức năng của nó. Một nhóm các nhà khoa học khác của Trường Đại học California, Berkeley cũng tiến hành một thí nghiệm tương tự nhưng phức tạp hơn một chút và đều đi đến cùng một kết luận.

Phương pháp những người lớn tương tác với mỗi nhóm trẻ đại diện cho những ý tưởng giáo dục khác nhau. Nhóm đầu tiên - với người chỉ dẫn cách chơi đồ chơi - là ví dụ của phương pháp hướng dẫn trực tiếp. Đây là phương pháp giảng dạy truyền thống, các giáo viên sẽ hướng dẫn tất cả mọi thứ. Nhóm thứ hai là ví dụ cho phương pháp học qua tham gia các trò chơi tương tác. Thí nghiệm đã cho thấy, phương pháp hướng dẫn trực tiếp đã hạn chế sự thích thú của trẻ trước đồ chơi cũng như khả năng tự khám phá và tìm hiểu của trẻ. Các em chỉ bắt chước người lớn và dừng lại ở đó. Nhóm thứ 2 cho thấy trẻ có thể tự học thông qua việc tự tìm tòi và khám phá. Thực tế, trong trường hợp này, trẻ học được nhiều hơn nhờ khám phá của chính mình.

Áp dụng trong dạy học ngôn ngữ thứ hai

Chúng ta đều học thứ ngôn ngữ đầu tiên khi chúng ta chưa biết đọc, và đó là ngôn ngữ mà ta thành thạo 100%. Con người sinh ra với bản năng tự nhiên trong học ngôn ngữ và nhu cầu giao tiếp. Đầu tiên, chúng ta chỉ biết khóc nhưng cho đến khi lên bốn, chúng ta lại có thể giao tiếp với gia đình và bạn bè như một điều kỳ diệu. Đó là một sự thay đổi đáng kinh ngạc từ việc không biết một ngôn ngữ nào trở thành thuần thục một ngôn ngữ khi 4 tuổi. Và bước tiến này được thấy ở tất cả chúng ta và ở mỗi đứa trẻ ta vẫn thấy thường ngày.

Quan sát những đứa trẻ trong một thời gian ngắn, chúng ta có thể thấy ba điều về cách các em học ngôn ngữ đầu tiên. Thứ nhất: trẻ không học ngôn ngữ đầu tiên tại trường vì vốn ở độ tuổi đó các em chưa đi học. Thứ hai: trẻ học được rất nhiều khi nghe người lớn nói chuyện dù không được học một bài học nào về các cấu trúc ngữ pháp. Thứ ba: trẻ khám phá ngôn ngữ đó qua việc trò chuyện với người lớn và mắc các lỗi sai trong ngôn ngữ hay qua chơi đùa và trò chuyện với những bạn cùng tuổi. Nhớ lại 2 nhóm trẻ trong thí nghiệm về đồ chơi. Một nhóm được hướng dẫn trực tiếp, trong khi nhóm thứ 2 được khơi gợi sự thích thú và khuyến khích tự khám phá. Kết quả là nhóm 2 đã học được nhiều hơn.



Ngôn ngữ là một dạng thức phức tạp hơn nhiều so với thứ đồ chơi đưa cho 2 nhóm trẻ đó. Như đã thấy, trẻ em có một khả năng đặc biệt trong học ngôn ngữ qua tự khám phá và nhận thức chức năng của nó. Giáo viên ngoại ngữ khi dạy một ngôn ngữ mới cho các em nên tận dụng khả năng đặc biệt này. Trẻ em thích vui chơi và thử khám phá bởi đó là cách học tốt nhất cho trẻ. Khi các em học ngôn ngữ thứ hai trên lớp, giáo viên phải hiểu sâu sắc cấu trúc của chương trình bao gồm mục tiêu của việc học từ vựng và ngữ pháp cơ bản, nhưng chương trình học cần được xây dựng dựa theo sở thích của các em, và cho các em được tự do nghe, thử khám phá và vui đùa với ngôn ngữ đó. Mặt khác, phương pháp hướng dẫn trực tiếp sẽ lấy đi những khả năng tuyệt vời nhất và quan trọng nhất trong việc tiếp thu của các em: tự khám phá và thử nghiệm. Với phương pháp hướng dẫn trực tiếp trong dạy ngữ pháp cho trẻ em, cho các em làm bài tập và học cho các bài thi, sử dụng sách giáo khoa, học thuộc lòng từ vựng đều là những phương pháp phản tác dụng.
Như thí nghiệm đồ chơi nói trên, những phương pháp này có thể kìm hãm khả năng khám phá và tác động tiêu cực đến khả năng tiếp thu của trẻ.

Tuy nhiên, phương pháp này chỉ có tác dụng với trẻ dưới 7 tuổi. Vì một lý do nào đó, trí não con người bắt đầu thay đổi trước tuổi dậy thì và tuổi trưởng thành, mất đi khả năng dễ dàng tiếp thu một ngôn ngữ một cách tự nhiên. Và để học một ngôn ngữ mới ở độ tuổi này trở đi, trẻ cần được người lớn hướng dẫn trực tiếp.

Nguồn: Dân Trí

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2013

Trẻ em nên học ngoại ngữ từ mấy tuổi?


Chúng tôi đem câu hỏi này đến với tiến sĩ tâm lý, chuyên gia ngôn ngữ đến từ Mỹ Elaine Schneider và nhận được câu trả lời: 7 tuổi đã là trễ.

* Thời điểm tốt nhất để bắt đầu dạy ngoại ngữ cho trẻ là lúc nào, thưa bà?
- Tiến sĩ Elaine Schneider: Càng sớm càng tốt. Não bộ của trẻ nhỏ giống như miếng bọt biển hút các thông tin xung quanh. Nếu chúng ta giới thiệu ngoại ngữ càng sớm, khả năng “hút” của miếng bọt biển này càng mạnh hơn. Ngoài ra, cấu tạo của các cơ quan nghe và phát âm ở trẻ nhỏ cũng giúp dễ bắt chước các cách phát âm khác nhau hơn. Nên bắt đầu giới thiệu ngoại ngữ cho trẻ từ trước 6 tuổi, đợi đến 7 tuổi đã là trễ, nhưng nhìn chung: càng sớm càng tốt.

Nên giới thiệu ngoại ngữ cho trẻ thông qua các hoạt động hằng ngày - Ảnh: Đoan Nhật
* Có một mốc rõ ràng nào về độ tuổi thích hợp nhất không, thưa bà?
- Tiến sĩ Elaine Schneider: Tôi sẽ không thể đưa ra một mốc xác định nào. Tuy nhiên, cách giới thiệu ngoại ngữ là một điều cực kỳ quan trọng khác. Chúng ta không thể bắt một đứa trẻ 3, 4 tuổi ngồi vào bàn học và dạy apple là quả táo, mom là mẹ một cách khô cứng. Trẻ con cần được học bằng tất cả các giác quan, được nghe, được nhìn, được nếm, được ngửi, được vừa học vừa chơi, được kết nối giữa cái đang học với vật thật… thì mới dễ nhớ.
Cách giới thiệu ngoại ngữ hiệu quả nhất cho trẻ là cách tự nhiên nhất, ví dụ bà mẹ dạy từ “cơm” cho trẻ trong giờ ăn cơm. Dạy ngoại ngữ quanh những chủ đề trẻ yêu thích cũng là điều rất quan trọng giúp trẻ tiếp thu nhanh.
Thực tập liên tục là một yếu tố cần thiết khác. Thử hỏi ngày nào tới giờ ăn, bà mẹ cũng nói “Con ăn cơm đi” thì làm sao trẻ không nhớ từ “cơm”? Tận dụng bài hát là một cách tuyệt vời khác. 
Tiến sĩ Elaine Schneider đến Việt Nam trong chuyến hoạt động thiện nguyện (từ 30.10 đến 14.11) cùng với 31 thành viên khác, bao gồm 10 người gốc Việt,  thuộc phái đoàn của tổ chức phi lợi nhuận Project Vietnam Foundation (đặt trụ sở tại California, Mỹ). Trong thời gian này, bà Schneider đã cùng với các chuyên gia y tế Mỹ khác tích cực trao đổi với các bác sĩ Việt Nam các kiến thức chuyên môn trong việc chăm sóc sức khỏe bệnh nhân, trong đó chủ yếu là trẻ em. Đặc biệt, Project Vietnam Foundation đã bắt đầu dự án Cấp cứu ban đầu tại trường học nhằm huấn luyện cho giáo viên các kỹ năng cơ bản về cấp cứu.
* Nhưng không phải cha mẹ nào cũng giỏi ngoại ngữ để dạy cho con, vậy thì nên đưa trẻ đến các trung tâm ngoại ngữ ở độ tuổi nào?
- Tiến sĩ Elaine Schneider: Tôi nghĩ nếu chỉ xét về khả năng học ngôn ngữ, ngay cả trẻ con 2 tuổi đã có thể đến các lớp dạy ngoại ngữ. Vấn đề là nếu cha mẹ không biết ngoại ngữ, ai sẽ thường xuyên thực tập với trẻ? Ngoài ra, phải đảm bảo rằng lớp học hấp dẫn, vui nhộn để trẻ con thích học chứ không bị cưỡng ép.
* Nhiều cặp vợ chồng hai quốc tịch dùng cả hai loại ngôn ngữ với trẻ từ lúc trẻ mới chào đời. Điều này có thể dẫn đến rối loạn ngôn ngữ không, thưa tiến sĩ?
- Tiến sĩ Elaine Schneider: Não bộ chúng ta được cấu tạo theo cách tất cả những người bình thường, dù là ở nước nào, đều có khả năng học được nhiều ngoại ngữ, kể cả học cùng lúc. Trẻ sơ sinh đã có khả năng đó. Đừng tưởng rằng trẻ sơ sinh không học ngôn ngữ, các em chưa nói, nhưng vẫn nghe, quan sát, tiếp nhận và nhớ ngôn ngữ. Các bà mẹ hãy nhớ lại xem, khi họ nói chuyện với đứa con bé xíu của mình, họ có sợ bé không hiểu không? Họ vẫn cứ nói, nói và nói, còn trẻ thì nghe, nghe và nghe, cho tới một ngày tự động bật ra nói. Hãy dạy ngoại ngữ cho trẻ y như cách dạy tiếng mẹ đẻ. Đó là cách hiệu quả nhất. Chẳng hạn trong giờ tắm, khi lau mặt cho trẻ, chúng ta có thể giới thiệu từ “mặt” bằng cả tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ. Cứ ngày nào cũng như thế, lặp đi lặp lại, trẻ sẽ tiếp nhận ngôn ngữ một cách rất đơn giản.

 Tiến sĩ Elaine Schneider - Ảnh: Đoan Nhật
* Khi trẻ đã lớn lên một chút, làm sao để giúp trẻ phân biệt rạch ròi giữa hai ngôn ngữ?
- Tiến sĩ Elaine Schneider: Người mẹ luôn giao tiếp với trẻ bằng tiếng mẹ đẻ, người cha bằng ngoại ngữ hoặc ngược lại là một cách. Cũng có thể quy định một thời gian cụ thể nào đó, ví dụ giờ ăn, là lúc dùng ngoại ngữ.
* Việc học một lúc hai ngôn ngữ có thể dẫn đến những rối loạn nào, thưa tiến sĩ?
- Tiến sĩ Elaine Schneider: Cần phải phân biệt rạch ròi giữa rối loạn ngôn ngữ và sự nhầm lẫn trong sử dụng ngôn ngữ. Khi một đứa trẻ đang học hai ngôn ngữ, chúng có thể dùng lẫn lộn. Ví dụ khi đang nói tiếng Việt, trẻ có thể pha lẫn tiếng Anh. Đây là điều hoàn toàn bình thường, không có gì là rối loạn. Tất nhiên, cha mẹ cũng nên khuyến khích trẻ giảm dần sự pha trộn này, nhưng không có gì là báo động, cứ từ từ rồi mọi chuyện sẽ đâu lại vào đấy. Nhưng cha mẹ cũng phải theo dõi con kỹ, phải nhìn đến khả năng và tư chất của mỗi đứa trẻ. Có thể việc học ngoại ngữ làm trẻ thấy mình bị thúc ép quá, căng thẳng quá, từ đó có thể dẫn đến những rắc rối về cảm xúc. Nếu thấy trẻ thay đổi hành vi, trẻ căng thẳng chúng ta nên giảm bớt tốc độ hoặc ngưng hẳn cho đến khi trẻ cân bằng lại.

Trong giờ học tiếng Anh tại trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm (TP.HCM) - Ảnh: Đào Ngọc Thạch
* Hiện nay, nhiều phụ huynh cho con học tiếng Anh với người bản xứ với hy vọng trẻ sẽ có phát âm chuẩn. Theo bà, phụ huynh nên đợi cho đến lúc trẻ có thể đến lớp, hay tự họ giới thiệu ngoại ngữ từ lúc trẻ còn rất nhỏ?
- Tiến sĩ Elaine Schneider: Có hai điều kiện lý tưởng ở đây: Thứ nhất trẻ được giới thiệu ngoại ngữ càng sớm thì khả năng tiếp nhận càng cao. Thứ hai: được học với người bản xứ để có phát âm tốt. Theo tôi, trước khi trẻ có thể đến lớp, cha mẹ vẫn nên giới thiệu ngoại ngữ cho trẻ, cộng thêm với việc cho trẻ nghe/xem băng đĩa do người bản địa nói.
* Nhiều người nói rằng học ngoại ngữ sẽ giúp trẻ thông minh hơn, ý kiến tiến sĩ như thế nào?
- Tiến sĩ Elaine Schneider: Tôi được biết về những cuộc nghiên cứu cho thấy trẻ được học ngoại ngữ thường có khả năng tuy duy tốt hơn. Bản thân tôi cũng tin rằng ngoại ngữ hỗ trợ cho việc tư duy.
* Xin cảm ơn bà!

Kinh nghiệm tạo môi trường học tiếng Anh cho bé!!!


1. Luôn luôn cho bé nghe

Kinh nghiệm từ mẹ bé Bi

Khi bé Bi mới hơn một tuổi tôi đã mua cho bé rất nhiều đĩa tiếng Anh rồi, ví dụ như đĩa phim hoạt hình của hãng Disney. Khi mới bắt đầu bé không thích đâu, cũng không hiểu nữa, không đầy 5 phút là bé chẳng thèm để ý rồi. Nghĩ rằng con mình còn nhỏ quá, thế là tôi lại cất đĩa đi. Đến khi bé khoảng một tuổi rưỡi tôi lại lấy ra, lại mở cho bé xem. Trong đĩa có rất nhiều loài động vật mà Bi thích như là voi này, gấu này, và thỏ nữa... đặc biệt hơn những loài động vật này lại có tên bằng tiếng Anh rất hay, điều này tạo hứng thú cho bé tập nhớ và gọi tên chúng, thế là bé xem một mạch tận hơn 20 phút đấy! Rồi có khi Bi còn chủ động yêu cầu mẹ mở cho xem.

Trước mắt thì bé vẫn chưa biết tiếng Anh, rất nhiều từ đơn cũng không hiểu, chỉ dừng lại ở cấp độ thích xem đĩa tiếng Anh và các bài hát nhi đồng bằng tiếng Anh. Nhưng tôi cảm thấy như vậy là đủ rồi, bé vẫn còn nhỏ mà, tôi không muốn cho bé quá nhiều áp lực, có thể học được gì lúc này cũng không phải điều quan trọng nhất. Tôi chỉ muốn tạo cho bé một môi trường tốt nhất, để bé tự quyết định xem mình cần học gì và thích gì. Cùng với những ngôn ngữ đơn giản mà Bi tiếp thu được từ đó tôi đã bắt dạy bé đến những từ liên quan đồng thời dùng một số câu đối thoại cực đơn giản. Dạy trẻ ngoại ngữ thật không dễ dàng gì, nó cần rất nhiều thời gian, tôi nghĩ mình phải rất tỉ mỉ nhẫn lại chứ không thể gấp gáp được.

Chú ý: Nếu như tiếng Anh của bạn không được tốt lắm, vậy thì bạn hãy để bé lựa chọn những đĩa tiếng Anh mà bé thích nhất. Bé dưới 3 tuổi độ nhạy cảm với âm thanh rất cao, trí nhớ và khả năng mô phỏng rất tốt. Bé có thể tiếp thu những âm thanh ở các bối cảnh và ghi ngay lại trong trí nhớ, rồi hình thành nên khái niệm của mình, đợi đến khi có môi trường tiếp xúc tương tự bé sẽ thể hiện ra những gì mình đã học được.
 


2. Giao tiếp với bé nhiều hơn

Kinh nghiệm từ mẹ bé Bin

Tiếng Anh của tôi cũng tạm, ông xã thì tốt hơn, thế là chúng tôi thường xuyên nói tiếng Anh với bé. Ví dụ buổi sáng thức dậy, tôi nói với bé “morning”, nhìn thấy món chuối khoái khẩu của bé tôi lại nói với bé “banana”. Nếu Bin nói muốn uống nước, tôi liền hỏi lại Bin: Ồ! Con muốn uống “water” à?

Khi nói tiếng Anh cùng Bin, tôi không hi vọng bé trả lời tôi ngay, mà tôi chỉ muốn cho Bin biết rằng “cái đó” còn có một cách biểu đạt khác nữa. Một hôm, như thường lệ khi ngủ dậy tôi lại nói với bé “morning”, và bé nói với tôi một từ phát âm không rõ ràng nhưng tôi biết chắc đó là “morning”, lúc đó tôi cảm thấy thật là vui. Công sức của mình thật không uổng! Bin đã nhớ được cách phát âm “morning” và biết dùng nó khi nào. Tuy Bin không hiểu hết hàn nghĩa của từ đó, cũng không thể biết chữ đó viết thế nào, nhưng bé có thể dùng tiếng Anh để đáp lại như thế đã đủ rồi!

Chú ý: Ngôn ngữ là cầu nối giao lưu giữa người với người. Có rất nhiều bậc phụ huynh sợ rằng mình phát âm không chuẩn, khi giao tiếp với bé rồi sau này sẽ khó sửa nên không dám nói tiếng Anh cùng con. Thực ra, như vậy không tốt, ngôn ngữ chính là không ngừng được nâng cao trong khi sử dụng. Nếu bạn không giao tiếp với bé bạn làm sao biết được con mình phát âm không chuẩn, làm sao biết được bé có nhớ được “apple” chính là “quả táo” không? Đây là một cơ hội tốt để cùng bé học tiếng Anh, giúp bé nâng cao hứng thú, tạo thêm tình cảm giữa ba mẹ và bé.

3. Tổ chức tiệc tiếng Anh cùng ba mẹ

Kinh nghiệm từ mẹ bé Na

Tôi là một giáo viên dạy tiếng Anh, tôi đã tổ chức bữa tiệc tiếng Anh và mời các bé cùng ba mẹ tham gia. Tôi cho rằng nếu gia đình có điều kiện thì nên cho con cái có thể tiếp xúc nhiều hơn với tiếng Anh. Trong thực tế mọi người đều đã biết tiếng Anh quan trọng thế nào rồi đấy! Thực ra đối với một em bé dưới 3 tuổi mà nói, học nhiều hay ít đều không quan trọng, quan trọng là bồi dưỡng tính năng ngôn ngữ cho bé.

Sau khi tổ chức buổi tiệc tôi nhận thấy rằng sự giao tiếp giữa các bé là vô cùng quan trọng. Tôi luôn khuyến khích các em nói tiếng Anh, dù là câu từ đơn giản cũng cần nói ra. Trẻ con có khả năng bắt trước rất nhanh, khi thấy bạn bè nói tiếng Anh và thế là kích thích cảm hứng nói của bé ngay!

Chú ý: Trẻ con với trẻ con, khi chúng chơi cùng nhau là lúc chúng vui vẻ nhất, bởi vì chúng có kinh nghiệm giống nhau, khả năng ngôn ngữ cũng giống nhau. Tổ chức buổi tiệc này không phải không phải bắt buộc ba mẹ và các bé nói hoàn toàn bằng tiếng Anh, đối với các bé dưới 3 tuổi thì tiếng mẹ đẻ vẫn là chính.Party tiếng Anh chỉ để cho các bé có cơ hội giao lưu, tiếp xúc với tiếng Anh và khi bé thấy mọi người xung quanh nói tiếng Anh thế là bé có cảm giác hiếu kì ngay. Thế nhưng bạn cũng không nên khiến bé bị áp lực quá, nếu con bạn không thích nói thì cũng không nên miễn cưỡng yêu cầu bé.